(New York) – Chủ tịch Hội đồng Châu Âu Herman Van Rompuy cần công khai thúc đẩy Việt Nam phóng thích tất cả những tù nhân chính trị đang bị bỏ tù và tạm giam, tôn trọng quyền tự do tôn giáo và chấm dứt các hình thức lao động cưỡng ép tại các trung tâm quản chế người nghiện ma túy trong chuyến thăm từ ngày 31 tháng Mười đến ngày mồng 2 tháng Mười Một năm 2012, hôm nay Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phát biểu. 

Vào đầu tháng Mười, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền đã gửi một bản ghi nhớ, được tóm tắt dưới đây, tới Hội đồng Châu Âu (EU), trong đó tóm tắt những khuyến nghị quan trọng về từng vấn đề nêu trên. Bản ghi nhớ cũng được kèm theo danh sách một số tù nhân chính trị cần được phóng thích ngay lập tức và vô điều kiện.

“Mặc dù Châu Âu coi Việt Nam là một đối tác thương mại quan trọng, Chủ tịch Van Rompuy không nên hạ thấp tầm quan trọng của vấn đề nhân quyền xuống hàng thứ yếu,” ông Brad Adams, Giám đốc Ban Châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phát biểu. “Việt Nam liên tục bỏ tù các công dân của mình chỉ vì họ đòi hỏi dân chủ và các quyền tự do mà công dân EU coi là đương nhiên. Ông Van Rompuy gánh vác một trách nhiệm đạo đức phải thực hiện qua việc minh định với chính quyền Việt Nam rằng họ không thể duy trì bộ máy đàn áp của một nền độc tài mà không phải chịu hậu quả trong quan hệ với EU.” 

 

Khuyến nghị của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền với Chủ tịch Hội đồng châu Âu Van Rompuy

Chính quyền Việt Nam tiếp tục đàn áp một cách có hệ thống các quyền tự do ngôn luận, lập hội và nhóm họp ôn hòa. Những người cầm bút độc lập, các blogger và các nhà vận động nhân quyền từng lên tiếng chất vấn chính sách của chính phủ, phanh phui các vụ việc tham nhũng của quan chức hay kêu gọi các giải pháp dân chủ thay thế cho chế độ độc đảng, thường xuyên bị đặt dưới sự theo dõi gắt gao của công an.

Những người phê phán chính quyền phải đối mặt với nhiều phương thức sách nhiễu của công an, trong đó có việc dọa nạt những người thân trong gia đình, tùy tiện ngăn cấm quyền đi lại trong nước và ra nước ngoài, và xử phạt hành chính. Chính quyền cũng tùy tiện giam giữ các nhà chỉ trích, không cho liên hệ với bên ngoài trong một thời gian kéo dài, không được tiếp cận các nguồn trợ giúp pháp lý hay được gia đình thăm nuôi. Nhiều người bị xét xử với các mức án tù nặng nề vì vi phạm các điều luật mơ hồ về an ninh quốc gia hay các điều luật hà khắc khác. Công an thường xuyên tra tấn nghi can để ép nhận tội và sử dụng bạo lực quá mức để trấn áp các cuộc biểu tình đông người phản đối việc cưỡng chế, tịch thu đất đai hay nạn bạo hành của công an.

Đứng trước hàng loạt các tệ nạn nghiêm trọng về nhân quyền ở Việt Nam, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền khuyến nghị Chủ tịch Van Rompuy tập trung vào ba nội dung chính sau đây, trong chuyến thăm Việt Nam của mình từ ngày 31 tháng Mười đến ngày mồng 2 tháng Mười Một. Đó là: những người đang bị bỏ tù hoặc tạm giam vì lý do chính trị và các quyền cơ bản bị đè nén; tình trạng đàn áp quyền tự do thực hành tôn giáo; và tình trạng cưỡng ép lao động trong các trung tâm quản chế người cai nghiện ma túy.

 

 

1. Những người bị bỏ tù hoặc tạm giam vì lý do chính trị và tình trạng các quyền cơ bản bị đè nén

Việt Nam tiếp tục đàn áp bất đồng chính kiến ôn hòa và trừng phạt những người bất đồng chính kiến vì họ thành lập những tổ chức bị chính quyền coi là đi ngược lại lợi ích của nhà nước. Tính riêng trong chín tháng đầu năm 2012, chính quyền xử tù ít nhất là 31 người bất đồng chính kiến và nhà hoạt động vì đã thực thi các quyền tự do ngôn luận và lập hội đã được tôn vinh trong Hiến pháp Việt Nam.

Chính quyền nghiêm cấm mọi đảng phái chính trị, công đoàn và tổ chức nhân quyền hoạt động độc lập với nhà nước hay Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị định số 45 (năm 2010) quy định các hiệp hội phải đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của nhà nước, biến các hiệp hội thành vai trò đại diện cho các bộ, ngành trong chính phủ hay đảng.

Người lao động ở Việt Nam không được thành lập công đoàn độc lập tách ra khỏi liên đoàn lao động do chính phủ quản lý. Có các quy định của nhà nước để xử phạt những người lao động tham gia đình công “trái phép” nếu không được chính quyền thông qua và các quan chức địa phương có quyền ép buộc những người đang đình công phải trở lại làm việc.

Những nhà hoạt động từng công khai tuyên bố sẽ thành lập các công đoàn độc lập ở Việt Nam bị bắt giữ, bỏ tù, sách nhiễu, đe dọa, đánh đập và trong một số trường hợp, bị “mất tích.” Lê Trí Tuệ, một trong những người sáng lập Công đoàn Độc lập đã bị làm mất tích từ tháng Năm năm 2007. Những nhà hoạt động vì quyền lợi người lao động bị trừng phạt với các mức án tù nặng nề, ví dụ như Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh và Đoàn Huy Chương bị xét xử năm 2010. Tháng Tám năm 2012, Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội xử nhà hoạt động Lê Thanh Tùng năm năm tù giam vì đã bảo vệ các công nhân và người khiếu kiện đất đai.

Việt Nam thường sử dụng các điều luật về an ninh quốc gia và các tội danh khác có ngôn ngữ mơ hồ và có thể diễn giải tùy tiện trong bộ luật hình sự để xử tù những người bất đồng chính kiến ôn hòa về chính trị và tôn giáo. Trong số đó bao gồm các tội danh “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” (điều 79, khung hình phạt cao nhất là tử hình); “phá hoại chính sách đoàn kết” (điều 87, khung hình phạt tới 15 năm tù); “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” (điều 88, khung hình phạt tới 20 năm tù); “phá rối an ninh” (điều 89, khung hình phạt tới 15 năm tù); “trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân” (điều 91, khung hình phạt tới án tù chung thân); “hình phạt bổ sung” tước bỏ một số quyền của những người từng bị xử tù về các tội “an ninh quốc gia,” buộc họ phải chịu quản chế tới năm năm và có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản (điều 92); và “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” (điều 258, khung hình phạt tới 7 năm tù).

Tệ kỳ thị các sắc dân thiểu số có nền văn hóa, và trong nhiều trường hợp, ngôn ngữ riêng, khiến tình cảnh tù nhân người dân tộc thiểu số còn tồi tệ hơn trong điều kiện nhà tù vốn dĩ đã khủng khiếp.

Trong số những tù nhân chính trị này có thể kể: 1) Trần Huỳnh Duy Thức (bị xử 16 năm tù); 2) Nguyễn Văn Hải (bút danh Điếu Cày; 12 năm); 3)Nguyễn Công Chính (11 năm); 4) Phạm Thị Phượng (11 năm); 5) Tạ Phong Tần (10 năm); 6) Nguyễn Hoàng Quốc Hùng (9 năm); 7) Trần Thị Thúy (8 năm); 8) Phùng Lâm (7 năm);  9) Đỗ Thị Minh Hạnh (7 năm); 10) Đoàn Huy Chương (7 năm); 11) Cù Huy Hà Vũ (7 năm); 12) Nguyễn Tiến Trung (7 năm); 13) Phạm Văn Thông (7 năm); 14) Nguyễn Ngọc Cường (7 năm); 15) Đinh Đăng Định (6 năm); 16) Nguyễn Xuân Nghĩa (6 năm); 17) Nguyễn Kim Nhàn (5 năm sáu tháng); 18) Hồ Thị Bích Khương (5 năm); 19) Lê Thanh Tùng (5 năm); và 20) Phan Ngọc Tuấn (5 năm). 

Những tù nhân là người dân tộc thiểu số gồm có: 1) Rmah Hlach (tên khác: Ama Blut; bị xử 12 năm); 2) Siu Hlom (12 năm); 3) Siu Ben (tên khác: Ama Yôn, 12 năm); 4) Nơh (12 năm); 5) Siu Nheo (10 năm); 6) Siu Wiu (10 năm); 7) Siu Brơm (10 năm); 5) Siu Thái (tên khác: Ama Thương; 10 năm); 6) Nhi (tên khác: Bă Tiêm; 10 năm); 7) Rôh (10 năm); 8) Rah Lan Mlih (9 năm); 9) Rơ Mah Pró (9 năm); 10) Rah Lan Blom (9 năm); 11) Siu Kơch (tên khác: Ama Liên; 9 năm); 12) Kpuil Mel (9 năm); 13) Rơ Lan Jú (tên khác: Ama Suit; 9 năm); 14) Pinh (9 năm); 15) Kpuil Lễ (8 năm); 16) Kpă Sinh (8 năm); 17) Rơ Mah Klít (8 năm); 18) AmLinh (tên khác: Bă Blưng; 8 năm); 19) Yưh (tên khác: Bă Nar; 8 năm); và 20) Rơ Mah Then (8 năm).
 

 

Khuyến nghị
Chủ tịch Van Rompuy cần kêu gọi chính quyền Việt Nam:

  • Phóng thích tất cả những người bị bỏ tù hoặc tạm giam vì lý do chính trị, bao gồm tất cả những người bị kết án hoặc bắt giữ vì đã thực thi các quyền tự do ngôn luận, tự do nhóm họp, tự do đi lại hay các hoạt động chính trị và tôn giáo khác.
  • Sửa đổi hoặc hủy bỏ các điều trong bộ luật hình sự và các bộ luật khác có nội dung hình sự hóa các hành vi bất đồng chính kiến ôn hòa bằng cách quy kết lệch lạc thành các tội danh về “an ninh quốc gia,” như các điều 79, 87, 88, 89, 91, 92, và 258 của bộ luật hình sự.
  • Với mục đích tạo dựng lòng tin ngay lập tức, chính quyền Việt Nam cần cho phép gia đình, những người trợ giúp pháp lý, và những quan sát viên của EU, các đại sứ quán châu Âu và các tổ chức nhân quyền và nhân đạo quốc tế tiếp xúc với những người đang bị bỏ tù hoặc tạm giam.
  • Cung cấp các thông tin về tình trạng của những tù nhân là người dân tộc thiểu số đang thụ án về các tội “phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc” (điều 87) và “phá rối an ninh” (điều 89).
  • Sửa đổi luật báo chí và các bộ luật khác cho phù hợp với điều 19 của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị.
  • Cho phép các tờ báo và tạp chí tư nhân, độc lập được xuất bản không phải qua kiểm duyệt.
  • Chấm dứt việc kiểm duyệt thông tin, theo dõi và các hạn chế khác trên Internet, và phóng thích những người đang bị giam giữ vì đã phát tán ý kiến cá nhân một cách ôn hòa trên mạng.
  •  

Ông Van Rompuy cũng nên kêu gọi Việt Nam phóng thích ngay lập tức những người bị cầm tù hoặc tạm giam vì lý do chính trị có vấn đề sức khỏe nghiêm trọng để họ được khám chữa bệnh đầy đủ. Vào tháng Bảy và tháng Chín năm 2011, hai tù nhân Nguyễn Văn Trại và Trương Văn Sương bị chết trong tù. Một số trường hợp khẩn cấp cần phóng thích ngay lập tức là:

  • Cha Nguyễn Văn Lý, 65 tuổi, bị Tòa án Nhân dân tỉnh Thừa Thiên-Huế xử ngày 30 tháng Ba năm 2007 về tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” theo điều 88 bộ luật hình sự. Ông đã nhiều lần bị đột quỵ trong trại giam kể từ năm 2009, để lại di chứng gây liệt chân và tay phải. Trong năm 2010, ông được cho tại ngoại chữa bệnh trong 16 tháng và bị quản chế tại gia, nhưng đến tháng Bảy năm 2011 cha Nguyễn Văn Lý bị đưa trở lại nhà tù để thi hành nốt phần còn lại của bản án 8 năm.

 

  • Nhà thơ, nhà vận động chống tham nhũng Nguyễn Hữu Cầu, 65 tuổi, người đã phải ngồi tù tổng cộng là 34 năm kể từ 1975. Đợt đầu tiên ông bị giam là từ năm 1975 đến năm 1980 trong một trại cải tạo; đợt thứ hai từ 1982 đến giờ vì đã vạch trần các hành vi tham nhũng của quan chức địa phương. Chính quyền truy tố ông về tội “phá hoại,” một tội danh nghiêm trọng vào những năm 1980, khi Việt Nam còn chưa mở cửa. Công tố viên trong phiên tòa xử ông chính là một trong những quan chức đã bị Nguyễn Hữu Cầu tố cáo về hành vi tham nhũng. Chính quyền đã dùng những bài hát, bài thơ ông sáng tác làm bằng chứng cho hành vi “phản động” của ông. Bản án ban đầu dành cho ông là tử hình, nhưng hiện nay Nguyễn Hữu Cầu đang phải thụ mức án tù chung thân. Ông đã bị mất hầu hết thị lực và thính lực.

 

  • Nhà hoạt động Phật giáo Hòa Hảo Mai Thị Dung, 43 tuổi, người đang chịu mức án 11 năm tù. Trong đợt đàn áp các nhóm Phật giáo Hòa Hảo độc lập vào năm 2005, chính quyền truy tố bà Mai Thị Dung về tội gây rối trật tự công cộng theo điều 245 bộ luật hình sự và kết án bà năm năm tù giam. Năm 2007, trong khi đang ngồi tù, bà bị Tòa án Nhân dân tỉnh Vĩnh Long xử về hành vi tham gia biểu tình cùng với các nhóm Phật giáo Hòa Hảo độc lập vào năm 2001 và kết án bà thêm sáu năm tù nữa, cũng với tội danh theo điều 245. Hiện nay, bà rất ốm yếu, bị liệt hai chân và sỏi mật cùng nhiều căn bệnh khác.

 

  • Nhà hoạt động Phật giáo Hòa Hảo Nguyễn Văn Lía, 71 tuổi, một cựu tù nhân tôn giáo, bị kết án năm năm tù vào ngày 13 tháng Chạp năm 2011 về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo điều 258 bộ luật hình sự. Mức án trên được giảm xuống còn bốn năm sáu tháng trong phiên phúc thẩm vào tháng Ba năm 2012. Theo gia đình, hiện ông đã mất gần hết thính lực, bị gãy một vài xương sườn từ các chấn thương cũ do bị côn đồ giấu mặt tấn công, và bị cao huyết áp.

 

2. Đàn áp tự do tôn giáo

Chính quyền Việt Nam tiếp tục giám sát chặt chẽ, sách nhiễu có hệ thống và nhiều khi trấn áp bằng vũ lực đối với các nhóm tôn giáo độc lập, tách riêng khỏi các tổ chức tôn giáo có đăng ký và chịu sự quản lý của chính phủ. Trong số các tổ chức tôn giáo phải chịu các biện pháp đối xử nêu trên của chính quyền, có thể kể các chi phái không được công nhận của đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, các nhà thờ Tin Lành tại gia ở Tây Nguyên và nhiều nơi khác, các chùa Phật giáo Khmer Krom và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN).

Vào ngày 26 tháng Ba năm 2012, mục sư Tin lành Nguyễn Công Chính bị xử 11 năm tù về tội “phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc” theo điều 87 bộ luật hình sự vì các hoạt động tôn giáo của ông. Từ tháng Ba đến tháng Chín năm 2012, có 17 nhà hoạt động tôn giáo bị chính quyền xử án tù. Có ít nhất 32 nhà hoạt động tôn giáo khác đang bị tạm giam chờ xét xử. Các vị lãnh đạo tôn giáo như tăng thống GHPGVNTN Thích Quảng Độ, nhà lãnh đạo Phật giáo Hòa Hảo độc lập Lê Quang Liêm và Võ Văn Thanh Liêm bị quản chế tại gia và thường xuyên bị theo dõi, có lúc gắt gao.

Trong tháng Sáu và tháng Bảy năm 2012, chính quyền địa phương sách nhiễu, đe dọa và ngăn cản các linh mục Công giáo hành lễ tại tư gia một tín đồ Công giáo ở xã Yên Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Cũng trong tháng Sáu, chính quyền địa phương sách nhiễu và ngăn cản các linh mục tổ chức lễ cầu nguyện tại tư gia một tín đồ Công giáo ở xã Châu Bình, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Trong cả hai vụ việc, tín đồ Công giáo tại địa phương từng nhiều lần gửi đơn đến các cơ quan hữu quan xin thành lập giáo xứ mới, nhưng chưa được chính quyền cho phép.

 

Khuyến nghị
Ông Van Rompuy cần thúc đẩy chính quyền Việt Nam:

  • Cho phép các tổ chức tôn giáo độc lập được tự do tiến hành các hoạt động tín ngưỡng ôn hòa phù hợp với các tiêu chuẩn luật pháp quốc tế.
  • Chấm dứt cản trở các hoạt động hoặc nhóm họp ôn hòa của các nhóm tôn giáo không đăng ký với chính phủ, như các chi phái của Phật giáo Hòa Hảo không được nhà nước công nhận, của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất,của đạo Cao Đài, và các nhóm, dòng Công giáo và Tin lành.
  • Chấm dứt việc ép buộc các nhóm này gia nhập các giáo hội đã đăng ký với nhà nước.
  • Chấm dứt các hành động sách nhiễu và theo dõi của công an đối với các chức sắc và tín đồ tôn giáo.
  • Tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo chưa được công nhận có được tư cách pháp nhân chính thức, và cho phép hoạt động độc lập với các tổ chức tôn giáo đã đăng ký tùy theo sự lựa chọn của họ.
  • Chấm dứt tệ kỳ thị tồn tại lâu nay đối với người Cơ đốc thuộc dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và Tây Bắc, người Phật giáo Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long và cho phép các tổ chức phi chính phủ, các cơ quan Liên hiệp quốc, các nhà ngoại giao và báo chí tự do giám sát điều kiện thực tế tại các vùng sâu, vùng xa nói trên.

 

3. Cưỡng ép lao động trong các trung tâm cai nghiện ma túy tập trung

Những người nghiện ma túy có thể bị quản chế trong các trung tâm cai nghiện của chính phủ, nơi họ bị ép buộc làm các công việc nặng nhọc dưới danh nghĩa “lao động trị liệu,” đơn thuốc chính của phương pháp điều trị cai nghiện ở Việt Nam. Tính đến đầu năm 2011, trên toàn quốc có 123 trung tâm đang quản chế khoảng 40,000 người. Việc quản chế những người này không phải qua một trình tự pháp lý thích hợp hay chịu sự giám sát pháp lý dưới bất kỳ hình thức nào, và thường kéo dài đến bốn năm. Nếu vi phạm các nội quy của trung tâm – trong đó có quy định về lao động bắt buộc – học viên bị đánh bằng dùi cui, chích điện bằng dùi cui điện, và bị giam trong các phòng kỷ luật với khẩu phần ăn uống bị cắt giảm. Trẻ em sử dụng ma túy cũng bị đưa vào các trung tâm này, và cũng phải tham gia “lao động trị liệu,” bị đánh đập và lạm dụng. Các cựu học viên cai nghiện cho biết họ từng bị ép buộc làm việc trong dây chuyền chế biến hạt điều và các việc nông nghiệp khác (trong đó có trồng khoai tây và cà phê), may mặc, xây dựng; và các ngành nghề sản xuất khác (như gia công mây tre đan). Theo luật Việt Nam, các công ty khai thác sản phẩm từ các trung tâm này được miễn thuế. Một số sản phẩm là kết quả của quá trình lao động cưỡng ép nói trên đã tìm được đường vào dây chuyền cung tiêu của các công ty xuất khẩu cung cấp hàng ra các thị trường ngoài nước, trong đó có Hoa Kỳ và châu Âu.

 

Khuyến nghị
Ông Van Rompuy cần công khai kêu gọi chính quyền Việt Nam:

  • Đóng cửa tất cả các trung tâm cai nghiện tập trung.
  • Thả hết các trại viên trong các trung tâm cai nghiện tập trung để họ được tiếp cận dịch vụ cai nghiện tại cộng đồng.
  • Chỉ đạo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội bãi bỏ chế độ cưỡng ép lao động trong tất cả các trung tâm do bộ này quản lý, trong đó có các trung tâm cai nghiện tập trung.
  • Nhanh chóng triển khai các cuộc điều tra độc lập và kỹ lưỡng về điều kiện lao động ở các cơ sở cai nghiện tập trung và các hình thức trung tâm khác, về các hành vi cưỡng ép lao động, đi ngược lại với quy định của pháp luật Việt Nam và quốc tế. Truy cứu trách nhiệm pháp lý về các hành vi lạm dụng và tội ác đối với trại viên để buộc những người đã có các hành vi phạm tội hoặc xâm hại trại viên phải chịu xử lý (kể cả truy tố hình sự) theo quy định của pháp luật Việt Nam.
  • Công bố danh sách tất cả các hình thức công việc mà trại viên phải tham gia, các sản phẩm được chế biến bằng sức lao động của trại viên trong các trung tâm nói trên, và các công ty có sản phẩm được chế biến bằng sức lao động của trại viên trong các trung tâm.
  • Chỉ đạo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đền bù thỏa đáng cho các trại viên và cựu trại viên về các công việc họ từng bị cưỡng bức lao động trong thời gian ở trung tâm.
  • Nhanh chóng phê chuẩn và thực thi hữu hiệu Công ước ILO số 105 (Bãi bỏ Cưỡng ép Lao động).
  • Thực thi trách nhiệm của nhà nước Việt Nam theo Công ước ILO số 29 bằng cách ngay lập tức sửa đổi bộ luật hình sự để bổ sung các tội danh cụ thể về cưỡng ép lao động.

 

Trên cơ sở các chương trình thương mại ưu đãi hiện có với Việt Nam, EU cần khởi xướng và duy trì việc rà soát tư cách thành viên của Việt Nam, vì trên thực tế Việt Nam đã không bảo vệ được quyền của những người sử dụng ma túy. Hiện nay EU đang cho Việt Nam hưởng các lợi ích ưu đãi thương mại theo quy chế Hệ thống Ưu đãi Chung của EU. Quy định của Hội đồng châu Âu về quy chế này cho phép “tạm ngưng quy chế ưu đãi đối với toàn bộ hay một số sản phẩm có nguồn gốc từ một quốc gia được hưởng ưu đãi, khi có đủ bằng chứng cho thấy việc tạm dừng đó là hợp lý,” trong đó có trường hợp “có những vi phạm nghiêm trọng và có hệ thống đối với các nguyên tắc” được nêu ra trong các công ước quốc tế về nhân quyền và quyền của người lao động, căn cứ trên kết luận của các cơ quan giám sát hữu quan.